Tìm hiểu kiến thức về các dòng họ Việt Nam toàn tập trọn bộ

Dòng họ Việt Nam rất phong phú và đa dạng với nhiều tên họ khác nhau. Tất cả được sắp xếp theo ngôn từ dễ đọc, mặc dù có ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc nhưng tên các dòng họ đều được nói trại đi, đọc chệch đi thành phiên âm của người Việt. Dong ho viet nam được viết đến nhiều nhất có lẽ là dòng họ Nguyễn với tỷ lệ ước tính chiếm khoảng 40% trong tổng thể các họ có ở Việt Nam. Bên cạnh đó họ Nguyễn cũng thể hiện được tầm quan trọng và sự bề thế khi tất cả các vị vua ở Việt Nam đa số đều mang họ Nguyễn.

Dòng họ Việt Nam hình thành như thế nào?

Việc hình thành dòng họ Việt Nam đã có từ cách đây hai ngàn năm trước, tổ tiên chúng ta đã rất thông minh và cao kiến khi đã lập ra “sổ điền” để nhà vua quản lí và phân chia ruộng vườn (vì việc phân chia này đòi hỏi nhà vua phải biết về số người trong một gia đình). Về sau còn có thêm “sổ đinh” hoặc “sổ bộ”, ghi họ tên chính thức bao gồm hộ tịch từng cá nhân và gia đình. Rồi cũng từ đây, phát triển lên thành “sổ bộ” của mỗi gia đình, ghi chú tất cả những việc cưới hỏi, sinh đẻ và tang ma, đó chính là nguồn gốc của gia phả

Dòng họ Việt Nam – cùng họ có phải cùng gốc gác?

Cùng họ không có nghĩa là cùng gốc gác, do ngày xưa dưới sự cai trị của các vị vua hoặc quan niệm đều là con cháu Lạc Hồng nên thường lấy chung một họ. Nhưng sau này có nhiều người đã tự tách họ riêng cho dòng tộc của mình, vì vậy mới có những trường hợp cùng một họ nhưng không cùng huyết thống như: họ Nguyễn làng Tây Sơn, họ Nguyễn làng Tiên Điền…

Bên cạnh đó, có người do các bận cha mẹ phạm tội triều đình nên bị “tru di tam tộc”… khiến một số người phải bỏ xứ và đổi tên để bảo đảm tính mạng nên phải lấy họ khác đã có trên đất nước lúc bấy giờ. Về lâu về dài, sinh con lập nghiệp và mang một họ mới chứ không lấy họ cũ. Một số trường hợp có công trạng với triều đình nên được lấy họ của vua và đó là một vinh dự nên không dùng họ của mình nữa. Vì thế không phải ai mang dòng họ của vua chúa đều có cùng huyết thống với họ của vua.

Họ Nguyễn – dong ho viet nam chiếm số đông ở Việt Nam

Theo ước tính trong cuốn Họ và Tên người Việt Nam được soạn bởi Tiến sĩ Lê Trung Hoa thì những họ phổ biến nhất Việt Nam là: Nguyễn (38,4 %), Trần (11 %), Lê (9,5 %), Huỳnh hay còn được bến đến là Hoàng (5,1 %), Phạm (5%), Phan (4,5 %), Vũ hay còn gọi là Võ (3,9%), Đặng (2,1%), Bùi (2%), Đỗ (1,4%), Hồ (1,3%), Ngô (1,3%), Dương (1%),.. còn lại một số họ khác chiếm tỷ lệ rất ít như Lý, Vương, Trịnh, Trương, Đinh, Lâm, Đoàn, Ma,… Hiện tại những người gốc Việt Nam ở Mỹ đa có đều có họ Nguyễn chiến số đông còn lại là các họ khác.

Các dong ho viet nam khác

Dong ho Viet Nam thường gặp nhất là Nguyễn sau đó đến các họ như: Phạm, Phan, Trần, Lê, Vũ/Võ, Trương, Huỳnh/Hoàng. Ngày xưa tất cả người trong một  làng đều cùng một dòng họ nhưng không có nghĩa là họ có cùng huyết thống với nhau. Về sau khi Trung Quốc sang độ hộ nước ta, bộ luật có sự thay đổi, con cái phải lấy họ cha chứ không được tự lựa chọn họ cho mình. Vì thế, lúc bấy giờ tình hình các vấn đề liên quan đến họ bắt đầu có sự thay đổi và trong gia phả của từng gia đình bắt đầu có những vị tổ riêng và có họ riêng của từng dòng họ. Chỉ khu bị tru di tam tộc, cữu tộc hoặc được nhận con nuôi hay nhận được vinh dự được cùng họ với vua mới thay đổi tên họ của mình. Tại website http://vietgiapha.com/ có rất nhiều thông tin về các dòng họ, chúng ta có thể tham khảo thêm tại đây.

Ý nghĩa dong ho viet nam

Tất cả trăm họ của người dân Việt Nam từ bốn ngàn năn nay rất phong phú và đa dạng và bắt đầu từ nguồn gốc ngày xưa. Mỗi bộ tộc đều có một họ và mang ý nghĩa riêng, vì dụ như họ Âu để biệu thị mình là con cháu Âu Lạc – Cách đặt tên theo giống dòng. Hoặc họ Đào (thợ gốm) – Cách đặt tên theo nghề nghiệp. Hay họ Lê (dân chúng, con dân bách tính) – Cách đặt tên theo ý nghĩa của từ ngữ. Tuy nhiên theo thời gian và sự mai một của Hán Nôm nên hiện nay nhiều họ đã được hiểu sai nghĩa so với ý nghĩa ban đầu hoặc là chỉ đơn giản là một danh tính, một cái họ chứ người được mang họ không để ý đến ý nghĩa của tên họ đó. Họ chỉ biết về nguồn gốc, gốc gác của dòng họ những đời sau, và vai trò, vị thế của các vị tiền bối chứ không biết nhiều nguồn gốc sâu xa và ý nghĩa của tên họ.

Kết luận

Dòng họ Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Qua sự biến thiên của lịch sử và hàng ngang năm đô hộ cùng các biến cố của từng gia tộc mà dòng họ đã có nhiều sự thay đổi. Tuy vậy các dòng họ của Việt Nam đều dễ đọc và dễ lưu nhớ. Ða số người Việt Nam mang 1 trong 16 dòng họ đã từng cai trị lẫy lừng trong lịch sử, theo thứ tự các niên đại: Thục, Trưng, Triệu, Mai, Khúc, Lý, Phùng, Kiều, Ngô, Ðinh, Lê, Trần, Hồ, Mạc, Trịnh và Nguyễn. Bên cạnh đó do sự lưu dân và di dân của người Hoa vào Việt Nam, người Hoa sống trên đất Việt Nam và sinh con đẻ cháu nên một số người Việt gốc Hoa có các họ như sau: Khổng, Lưu, Trương, Mai, Lâm, Lữ, Nhan, Sử, Tăng, Trịnh, Vương và rất nhiều dòng họ khác từ các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam… Ngoài bài viết này, nếu vẫn còn thắc mắc và muốn tìm hiểu thêm về các dòng họ chúng ta có thể truy cập vào website vietgiapha.com để có thêm thông tin, bởi vì website này đã thiết kế gia phả và tìm hiểu rất nhiều về lịch sử của các dòng họ trong quá trình thực hiện gia phả cho các dòng họ đó.